|
VÌ SAO CẦN CẮM GHÉP IMPLANT? |
|
VÌ SAO CẦN CẮM GHÉP IMPLANT?
Trước khi implant ra đời, con người ta vẫn ăn, vẫn nói và vẫn sống, vẫn cười đấy thôi. Tuy nhiên chất lượng cuộc sống con người được cải thiện và nâng cao mỗi ngày từ đó cắm ghép implant không thể thiếu trong nha khoa đương đại hôm nay.
- Khi mất răng riêng lẻ:
Mất răng riêng lẻ thông thường nha sĩ sẽ làm cầu răng để khôi phục lại răng mất. Một khi chúng ta không muốn mài bớt răng bên cạnh để làm trụ đỡ cho răng bị mất thì cắm ghép implant sẽ là giải pháp thay thế cho bạn. implant khi được đặt trong xương hàm nó làm ngăn chặn sự tiến triển tiêu xương sinh lý. Nó còn làm cải thiện chất lượng xương quanh vùng đặt implant.
 
- Không còn trụ răng thay thế:
Khi chúng ta mất một hoặc nhiều răng phía sau cùng bên thì việc khôi phục lại bằng cầu răng là điều khó thực hiện. khi đó chúng ta chọn giải pháp hàm tháo lắp. Hàm tháo lắp thường độ chính xác không cao hoặc vướng víu làm cản trở chức năng ăn nhai hoặc làm thay đổi giọng nói,… Trường hợp mất răng kiểu này implant luôn là sự lựa chọn tối ưu. Implant giúp bạn loại bỏ được hàm giả tháo lắp lỏng lẻo và cồng kềnh thêm vào đó là những lực tác động không mong muốn của hàm giả có thể phá hủy các răng thật nguyên vẹn còn lại của bạn trên cung hàm.

- Hàm tháo lắp không thể vững ổn trên cung hàm.
Một hàm giả tháo lắp luôn đem lại thẩm mỹ và chi phí rẻ hơn nhiều so với hàm cố định trên implant. Tuy nhiên sự tiêu xương trên hàm mất răng luôn diễn ra trên sóng hàm đã bị nhổ răng, tiêu đến một khi sóng hàm không thể lưu giữ được hàm giả nữa thì gia cố thêm neo chặn bằng implant hay thay thế toàn hàm cố định trên implant là giải pháp lựa chọn.
- Duy trì thẩm mỹ:
Sau khi nhổ răng hoặc nha chu tiến triển thì gai nướu nơi tam giác kẽ 2 răng kế cận thường bị teo đi làm cho chân răng bị lộ ra do tụt nướu. Để giữ nguyên gai nướu không teo và ổn định thẩm mỹ vùng chân răng thì implant thay thế luôn là giải pháp đầu tay.

|
|
|
|
Nguyên tắc đặt implant chìa khóa |
|
|

Thông thường mất một hoặc hai răng thì đặt implant thay thế chân răng là đơn giản.
Khi mất nhiều hơn hai răng việc khôi phục chân răng bằng kỹ thuật implant nha khoa trở thành vấn đề lớn mà cả thầy thuốc và khách hàng của mình rất quan tâm.
Một mặt đặt nhiều trụ implant thì chi phí sẽ cao mặt khác đặt ít trụ implant thì sự phục hồi sau này chịu lực quá mức làm tăng nguy cơ thất bại.
Mục đích của khách hàng không phải là đặt implant như thế nào, mà vấn đề phục hồi cuối cùng sẽ ra sao ? Có đạt được các yêu cầu về thẩm mỹ và chức năng hay không ? Và chỉ định cho phục hồi cũng là vấn đề quan tâm của khách hàng.
Nguyên tắc chọn vị trí đặt implant
( theo Mish CE, 2008)
- Implant nằm ngay giữa theo chiều gần xa của phục hồi.
- Hạn chế phục hình với.
- Vị trí cuối cùng là vị trí chìa khóa.
- Không thiết kế ba nhịp cầu liên tiếp.
- Vùng răng nanh và vùng răng cối thứ nhất là những vị trí chìa khóa đặc biệt khi những răng kế bên bị mất.
- Nếu thấy không đủ vững, nên tăng thêm số lượng implant.
Vị trí cung chìa khóa:
Cung răng làm 5 đoạn:
(1) Hai răng cửa giữa & 2 răng cửa bên
(2) Răng nanh là 1 đoạn độc lập
(3) Răng cối nhỏ & răng cối lớn trên mỗi hàm
p
Một số trường hợp đặc biệt:
|
|
|
1. Mất 2 răng:
Chỉ định ngay 2 implant.
trừ trường hợp 2 răng cửa hàm dưới.
|
|
|
2. Mất 3 răng:
Răng cối nhỏ 1- răng nanh & răng cửa bên (R 2-3-4)
|
 |
|
Hai implant + nhịp với
Vị trí chìa khóa: RCN 1 & răng nanh --> có 1 nhịp với cho răng cửa bên.
- Răng cửa bên là răng nhỏ nhất trên cung hàm & vùng răng trước có lực cắn nhỏ nhất nên cầu với ít bi va chạm.
|
 |
|
Ba implant thay thế
Khi yếu tố lực lớn hơn bình thường có thể thêm một implant đường kính nhỏ cho vị trí cửa bên . Ba implant không có nhịp với, hạn chế nguy cơ lực quá mức.
|
 |
|
Mất ba răng
( Hai răng cửa giữa và một răng cửa bên ) như hình vẽ.
Chọn kế hoạch A hoặc B.
Kế hoạch C không nên chọn vì răng cửa giữa chịu lực lớn hơn răng cửa bên.
|

|
| Mất 4 răng : R 3-4-5-6 |
 |
|
Lực nhai răng hàm cao, mật độ xương không lý tưởng & kích thước implant không thích hợp.
Chỉ định 2 vị trí implant chìa khóa là abutment cuối cùng không đủ nâng đỡ phục hình trên implant.
|
 |
|
Chỉ định lý tưởng
- Ba implant thay thế cho 4 răng mất. - Lực nhai cao và mật độ xương kém (ví dụ vùng răng sau hàm trên) chỉ định 4 implant thay thế cho 4 răng mất thích hợp hơn.
|
 |
|
Trường hợp mất 4 răng cửa hàm trên
Chỉ định A là thích hợp hơn. Đồng thời giảm tiếp xúc tối đa cho các răng cửa bên trong mọi vận động đối với hàm đối diện.
|
 |
| Mất nhiều răng liên tiếp kéo dài trên 1 đoạn. |
|
| 2 RCN 1 (abutment cuối)không đủ nâng đỡ phục hình trên implant. |
 |
| Phục hồi chức năng
5 implant
- 2 RCN 1 (abutment cuối)
- 2 Răng nanh.
- Một trong 2 vị trí răng cửa giữa
|


|
|
.
Phục hồi thẩm mỹ
6 implant
Yếu thẩm mỹ cần sự cân xứng của các trụ implant.
|

|
|
Kế hoạch dự tính dựa trên yếu tố sinh cơ học giúp giảm biến chứng au khi implant chịu lực (có phục hình). Để giảm tình trạng chịu lực quá mức, nên tuân theo nguyên tắc các vị trí implant chìa khóa cho phục hình thay thế răng mất.
Tăng số lượng implant là biện pháp hiệu quả nhất để tăng bề mặt tiếp xúc và giảm lực toàn bộ. Việc kế tiếp cần thêm implant vào để giảm nguy cơ, do những bất lợi về lực nhai quá mức của bệnh nhân hoặc vùng impalnt có mật độ xương kém.
|
|
|
r |
|
Chịu lực tức thì trên Implant là gì? |
|
Chịu lực tức thì trên Implant là gì?
|
Chịu lực trên Implant tức thì có thể được định nghĩa ngắn gọn là việc chịu lực của một Implant nha khoa ngay sau hoặc ít giờ sau khi đặt Implant.

Tuy nhiên, nhiều định nghĩa khác có thể thấy trong y văn. Điều này gây ra sự nhầm lẫn giữa các bác sĩ nha khoa. Ví dụ, Misch và cộng sự đưa ra định nghĩa sau: ª Chịu lực nhai tức thì: Implant được cho chịu lực nhai tức thì trong vòng 2 tuần sau khi đặt Implant. ª Chịu lực nhai sớm: Implant được cho chịu lực nhai trong khoảng 2 tuần đến 3 tháng sau khi đặt Implant. ª phục hình tức thì không hoạt động chức năng: phục hình trên Implant ở bệnh nhân mất Răng bán phần trong vòng 2 tuần sau khi đặt Implant mà không có chịu lực nhai trực tiếp. ª phục hình sớm không hoạt động chức năng: phục hình trên Implant ở bệnh nhân mất Răng bán phần trong vòng 2 tuần sau khi đặt Implant mà không có chịu lực nhai trực tiếp. ª Chịu lực nhai trễ: chịu lực nhai đối với phục hồi trên Implant hơn 3 tháng sau khi đặt Implant. Gần đây, Wang và cộng sự đã đưa ra định nghĩa chịu lực trên Implant tức thì dựa trên sự thống nhất ý kiến đạt được từ hội nghị quốc tế các nhà cấy ghép răng tổ chức tại Naples (Ý) vào tháng 5/ 2006. Định nghĩa: Chịu lực tức thì có thể được hiểu là kỹ thuật phẫu thuật Implant trong đó phục hình nâng đỡ bởi Implant được gắn và chịu lực nhai trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật đặt Implant. Theo định nghĩa này, không nên định nghĩa chịu lực Implant tức thì đối với tất cả các phương thức lâm sàng chủ yếu để đạt được thẩm mỹ tức thì “immediate esthetics” hoặc không chịu lực chức năng “ non-functional loading” với điểm đặc trưng của nó là phục hình không có tiếp xúc nhai.
Chịu lực tức thì của các Implant nha khoa không chỉ muốn nói đến việc sử dụng kỹ thuật phẫu thuật một giai đoạn, không chôn vùi Implant; mà còn cho chịu lực các Implant mới đặt với một phục hình bên trên – có thể là phục hình tạm hoặc phục hình sau cùng – cho phép thực hiện hoạt động nhai đầy đủ. phục hình Implant tức thì có chịu lực chức năng tạo sự thoải mái hơn cho bệnh nhân, mang lại sự phục hồi thẩm mỹ và chức năng nhanh chóng cho bệnh nhân. Thêm vào đó, nó cũng loại bỏ được sự bất tiện của lần phẫu thuật thứ 2 để đặt phần trung gian xuyên nướu. Điều này thường dẫn đến sự lành thương sớm của mô mềm và đưa đến sự ổn định sớm của mô quanh Implant bảo đảm sự tồn tại của Implant cao hơn.
Tuy nhiên, chịu lực Implant tức thì tiềm ẩn nhiều nguy cơ mà cả Bác sĩ và bệnh nhân đều phải hiểu thấu đáo. Các nguy cơ bao gồm: - Tỉ lệ thất bại cao do sự di chuyển của Implant ở mức vi thể. - Không thể tiên lượng được kết quả sau cùng của mô xương và mô mềm.
Để biết thêm chi tiết xin liên hệ Bệnh viện thẩm mỹ nha khoa AVA
|
|
|
Chịu lực tức thì trên Implant là gì? |
|
Chịu lực tức thì trên Implant là gì?
|
Chịu lực trên Implant tức thì có thể được định nghĩa ngắn gọn là việc chịu lực của một Implant nha khoa ngay hoặc ít giờ sau khi đặt Implant.

Tuy nhiên, nhiều định nghĩa khác có thể thấy trong y văn. Điều này gây ra sự nhầm lẫn giữa các bác sĩ nha khoa. Ví dụ, Misch và cộng sự đưa ra định nghĩa sau: ª Chịu lực nhai tức thì: Implant được cho chịu lực nhai tức thì trong vòng 2 tuần sau khi đặt Implant. ª Chịu lực nhai sớm: Implant được cho chịu lực nhai trong khoảng 2 tuần đến 3 tháng sau khi đặt Implant. ª phục hình tức thì không hoạt động chức năng: phục hình trên Implant ở bệnh nhân mất răng bán phần trong vòng 2 tuần sau khi đặt Implant mà không có chịu lực nhai trực tiếp. ª phục hình sớm không hoạt động chức năng: phục hình trên Implant ở bệnh nhân mất răng bán phần trong vòng 2 tuần sau khi đặt Implant mà không có chịu lực nhai trực tiếp. ª Chịu lực nhai trễ: chịu lực nhai đối với phục hồi trên Implant hơn 3 tháng sau khi đặt Implant. Gần đây, Wang và cộng sự đã đưa ra định nghĩa chịu lực trên Implant tức thì dựa trên sự thống nhất ý kiến đạt được từ hội nghị quốc tế các nhà cấy ghép răng tổ chức tại Naples (Ý) vào tháng 5/ 2006. Định nghĩa: Chịu lực tức thì có thể được hiểu là kỹ thuật phẫu thuật Implant trong đó phục hình nâng đỡ bởi Implant được gắn và chịu lực nhai trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật đặt Implant. Theo định nghĩa này, không nên định nghĩa chịu lực Implant tức thì đối với tất cả các phương thức lâm sàng chủ yếu để đạt được thẩm mỹ tức thì “immediate esthetics” hoặc không chịu lực chức năng “ non-functional loading” với điểm đặc trưng của nó là phục hình không có tiếp xúc nhai.
Chịu lực tức thì của các Implant nha khoa không chỉ muốn nói đến việc sử dụng kỹ thuật phẫu thuật một giai đoạn, không chôn vùi Implant; mà còn cho chịu lực các Implant mới đặt với một phục hình bên trên – có thể là phục hình tạm hoặc phục hình sau cùng – cho phép thực hiện hoạt động nhai đầy đủ. phục hình Implant tức thì có chịu lực chức năng tạo sự thoải mái hơn cho bệnh nhân, mang lại sự phục hồi thẩm mỹ và chức năng nhanh chóng cho bệnh nhân. Thêm vào đó, nó cụng loại bỏ được sự bất tiện của lần phẫu thuật thứ 2 để đặt phần trung gian xuyên nướu. Điều này thường dẫn đến sự lành thương sớm của mô mềm và đưa đến sự ổn định sớm của mô quanh Implant bảo đảm sự tồn tại của Implant cao hơn.
Tuy nhiên, chịu lực Implant tức thì tiềm ẩn nhiều nguy cơ mà cả Bác sĩ và bệnh nhân đều phải hiểu thấu đáo. Các nguy cơ bao gồm: - Tỉ lệ thất bại cao do sự di chuyển của Implant ở mức vi thể. - Không thể tiên lượng được kết quả sau cùng của mô xương và mô mềm.
Để biết thêm chi tiết xin liên hệ Bệnh viện thẩm mỹ nha khoa AVA

|
|
|
Ghép xương trong Implant- Những điều cần biết |
|
|
Ghép xương trong Implant- Những điều cần biết
Cấu trúc xương lành mạnh của sống hàm duy trì hình dáng mô mềm thẩm mỹ xung quanh hàm răng tự nhiên và tạo ra bộ khung nâng đỡ hình dáng bên ngoài của mô mềm quanh implant. Thiếu xương ổ, đặc biệt ở hàm trên do sự tiêu xương sau nhổ răng, có thể dẫn đến các vấn đề về chức năng và thẩm mỹ;
các vấn đề này cần sử dụng các thủ thuật gia tăng thể tích để tái lập các chiều hướng nguyên thủy quanh răng mất. Kỹ thuật tái tạo xương đã làm tăng đáng kể khả năng tái tạo chức năng và thẩm mỹ của implant nha khoa bằng việc phục hồi các khiếm khuyết sống hàm trở lại kích thước nguyên thủy của nó, điều này giúp cho việc đặt implant đạt kết quả tối ưu và làm tăng độ tin cậy của liệu pháp implant và được xem là 1 phương thức điều trị đáng quan tâm. Tái cấu trúc xương ở vùng sống hàm có thể được phân loại theo kết quả đạt được, cả về chức năng và thẩm mỹ. Jovanovic đã phân chia các vị trí trong khoang miệng thành (1) các vị trí liên quan đến thẩm mỹ – đòi hỏi phải có đủ cấu trúc xương (xương nâng đỡ mô mềm quanh implant để hình thành hình dạng cong lồi tự nhiên) giúp đạt được kết quả thẩm mỹ và chức năng, và (2) vùng không liên quan đến thẩm mỹ- vị trí đòi hỏi có đủ xương nâng đỡ để bảo đảm thành công về mặt chức năng trong thời gian dài. Cấu trúc xương bên dưới ảnh hưởng đến hình dạng và vẻ ngoài của mô mềm xung quanh. Không may là ở vùng phía trước hàm trên cấu trúc xương ổ trải qua quá trình tiêu ngót nhanh chóng sau nhổ răng. Nó mất khoảng 25% thể tích trong năm đầu tiên và mất đến 40-60% chiều rộng trong 3 năm đầu sau khi mất răng. Vì vậy, nhiều kỹ thuật tái tạo xương đã được giới thiệu giúp phục hồi các khiếm khuyết sống hàm. Việc phục hồi thể tích mô cứng bên dưới đã mất có thể thực hiện trước khi hoặc đồng thời với đặt implant, điều này giúp duy trì và nâng đỡ không chỉ phục hình nâng đỡ trên implant thẩm mỹ mà còn nâng đỡ các cấu trúc vùng mặt liên quan. Những thay đổi trong kiểu tiêu xương ổ hàm trên đòi hỏi các phương thức xử lý khác nhau; kích thước và từng loại khiếm khuyết xương cụ thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn thủ thuật ghép thích hợp nhất. Ví dụ, các khiếm khuyết sống hàm nhỏ gợi ý sử dụng vật liệu ghép đồng thời với thủ thuật đặt implant; trong khi các khiếm khuyết sống hàm theo chiều ngang ở mức độ trung bình đòi hỏi việc sử dụng thủ thuật ghép có khả năng tiên lượng kết quả tốt hơn như ghép xương tự thân theo phương thức điều trị từng giai đoạn như ghép xương trước khi đặt implant. Trong trường hợp khiếm khuyết sống hàm theo chiều dọc và chiều ngang nghiêm trọng, cần sử dụng các công cụ tái tạo phức tạp hơn sao cho có thể tiên lượng được kết quả ghép xương tốt hơn. Có nhiều ưu điểm về công nghệ trong các thủ thuật ghép xương trong miệng. Một trong những tiến bộ hiện nay trong kỹ thuật ghép xương liên quan đến việc sử dụng các protein tạo dạng xương (BMPs-Bone Morphogenetic Proteins), như BMP-2, có khả năng kích thích quá trình tạo xương và làm tăng mật độ xương qua quá trình tiêu và tái cấu trúc chậm. BMP-2 giúp gia tăng quá trình phân bào của tế bào mầm tại chỗ để lôi kéo các tế bào trung mô không biệt hóa vào vùng ghép. Các tế bào này có thể được chuyển thành nguyên bào xương, bằng sự phân bào tạo hình thái phù hợp, và bắt đầu quá trình tạo thành khung xương. Quá trình này được gọi là cơ chế tạo hình phân bào đa dạng nhằm kích thích lành thương mô xương. Nó có thể trở thành thủ thuật ghép xương lý tưởng trong tương lai gần. Các ưu điểm của kỹ thuật cũng đã đưa vào qui trình sản xuất các loại màng tái tạo xương có hướng dẫn, các ưu điểm này đã được tập trung chủ yếu vào việc nâng cao các đặc tính sinh lý và tương hợp sinh học của vật liệu màng ngăn. Trên thị trường hiện nay có cả loại màng tự tiêu và không tự tiêu. Sử dụng màng tự tiêu không cần thêm phẫu thuật để tháo bỏ màng ngăn và cho thấy ít có phản ứng mô hơn do bản chất sinh học của loại vật liệu này. Màng ngăn không tự tiêu có thể tồn tại lâu hơn tại vị trí che chở mô ghép, nhờ vậy nó cho hiệu quả ghép xương tốt hơn; tuy nhiên nó cần phải thực hiện thêm một lần phẫu thuật để tháo bỏ màng. Tuy nhiên, y văn không cho biết rõ loại nào cho phép tiên lượng kết quả tốt hơn. Việc chọn lựa loại màng tái tạo xương có hướng dẫn nào nên tùy thuộc vào sự hiểu biết rõ các lợi ích của chính vật liệu màng và giới hạn của vật liệu liên quan đến các yêu cầu chức năng đối với ứng dụng lâm sàng đặc biệt. Ghép xương tự thân trong bất kỳ thủ thuật tái tạo nào cũng được xem là tiêu chuẩn vàng đối với các thủ thuật ghép xương, vì nó cung cấp các protein như các chất nền gia tăng lượng xương, các chất khoáng, và tế bào xương còn sống cho vị trí ghép, qua đó nâng cao thành công toàn bộ thủ thuật ghép xương, dẫn đến tỉ lệ thành công cao. Các vị trí lấy xương tự thân dùng ghép xương ổ có thể là trong hoặc ngoài miệng. Các vị trí lấy xương ngoài miệng gồm xương mào chậu, xương chày, xương sườn, xương sọ; tuy nhiên việc lấy xương ngoài miệng thường gây ra các tình trạng tổn thương thêm ở vùng lấy xương và đòi hỏi phẫu thuật phức tạp. Mặt khác, các vị trí trong miệng như ở vùng lồi củ, góc hàm, đặc biệt ở vùng cằm thường cho chất lượng xương tốt hơn và kết quả hậu phẫu dễ tiên lượng hơn. Gần đây, vào năm 1998, tạo xương do sử dụng dụng cụ kéo xương đã được giới thiệu như là 1 phương pháp hứa hẹn phục hồi sống hàm khiếm khuyết trở lại hình dạng và kích thước nguyên thủy. Kỹ thuật này đã được thực hiện trong các phẫu thuật chỉnh hình, nó được dùng để kéo dài xương ống ở trẻ em, và hiện nay được dùng để phục hồi tình trạng teo sống hàm trầm trọng. Nó loại bỏ việc phẫu thuật lấy xương và giảm nguy cơ bệnh tật so với thủ thuật ghép tự thân. Việc chọn kỹ thuật hoặc vật liệu ghép thích hợp ảnh hưởng đến thành công và và khả năng tiên lượng kết quả điều trị sau cùng. Kích thước và loại khiếm khuyết và tình trạng sức khỏe toàn thân là một số yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định thực hiện thủ thuật ghép xương.
. .
|
|
|
|
|
|
|
|
Trang 1 trong tổng số 7 |